Cái này mà nói ở đây thì ko đúng , có thể dời về mục hỏi đáp thì đúng hơn .
Tôi hiểu ý 2 anh , nhưng vẫn thấy cái gì đó ko rõ , tôi chỉ xin cụ thể hơn .
1. Việt hóa, chợ hóa cho dễ hiểu :
shifting levers : là bộ điều chuyển tốc độ , đó là văn hoa , thường gọi là tay đề , tay lắc , cần sang số ... cho dễ hiểu , cái tên đi với công việc
Tay đề , cần đề : vì tên âu hóa của nó là derailleur , đọc là đề rai dơ, nên nhìn vào hình ảnh của nó mà gọi , vì nó nhu ra như cái cần câu nên hay gọi là cần đề , nhưng có người nhìn nó thì giống cái tay sang số trên xe hơi nên gọi là " tay đề " , mà tay đề thì bắt ở đâu cho thích hợp , chỉ có gióng xiên là phù hợp nhất , vì tay vdv từ ghi-đông di chuyển thuận là đến gióng xiên , vì thế bộ " cần đề " được cố định ở gióng xiên , nên mới có tên Tây là " down tube shifters " shifters là những sự thay đổi vị trí , là hình tượng của cần đề đó ! (down tube : gióng xiên, gióng xéo )

Cái này gọi là down tube shifters .
Tay đề thường có 2 loại , 1 loại gọi là tay đề " thường ", tay đề " trơn " tiếng Tây , tiếng U gọi là Friction shifting , nghĩa là tay đề kéo...tự do , nói vậy cho dễ hiểu , nghĩa là tay đề này chạy đơn giãn trên 2 mặt ma sát , kéo bao nhiêu nó căng dây bấy nhiêu , trả bao nhiêu nó chùng dây bấy nhiêu , khi nào thấy ...được được thì để nguyên , từ Friction cũng dễ hiểu ( Friction: ma sát )

Chỉ có cái cần đề với cái mặt ngang , kéo như thế nào đúng thì thôi , tuy nhiên dân chơi xe chuyên nghiệp ...đời xưa đều dùng ...kiểu này ! canh xe , chạy xe bằng cảm nhận nơi ngón tay là chính , cảm nhận nơi vòng quay , ko cần nhìn cũng biết chạy dĩa bao nhiêu , líp bao nhiêu mà ...cân chĩnh , nhiều khi siết ko chặt khóa ngoài nó ...xòa , từ 25,23 nó văng cùi ...đề xuống líp 12,13 ( hồi xưa ko có líp 11 ) khóa ngoài là cái bên cạnh cần đề có ốc bắt vào sườn .
Loại thứ 2 là tay ( cần ) đề bi , cái mà sang gọi là Index shifting , nó gồm có 2 mặt ma sát có đục lỗ ,được cố định bằng 1 hột bi ở cần xoay , bao nhiêu líp có bao nhiêu lỗ tương ứng , khoản cách từ lỗ này đến lỗ khác tỷ lệ với cùi đề qua líp ( qua 1 lỗ là lên 1 líp hay xuống 1 líp và cố định bởi hột bi ) cải tiến hơn chút nữa là ...nấc , ai chạy xe số Nhật ( xe nữ , xe leo núi ) với cần 3 nấc là hiểu index như thế nào, tiếp theo phát tiển loại hình này, năm 1984 Shimano với mô hình khoảng cách cho ra đời loại hình tay ...lắc 6 , gọi là tay SIS ( Shimano Index Shifting ) cho đến hôm nay chúng ta dùng tay lắc ắc ắc là bắt đầu từ ...tay số đó và từ SIS phát triển hệ thống tay lắc đa phức hợp lắc 9, lắc 10 theo nguyên tắc STI ( Shimano total Integration) đồng bộ tổng .
từ tay kéo sang tay lắc STI này là cả 1 quá trình tiến bộ của khoa học với môn xe đạp !
Góp thêm chút ý với anh em !